Các Loại Cà Phê Phổ Biến Nhất Trên Thế Giới và Ở Việt Nam

Các Loại Cà Phê Phổ Biến Nhất Trên Thế Giới và Ở Việt Nam

Khi người Việt nói đến cà phê, chúng ta nghĩ đến cà phê phin, cà phê rang xay, cà phê hoà tan… Nói cách khác, chúng ta nói đến Coffea Canephora tên phổ biến của loài cà phê này là Robusta. Ở các nước phương Tây thì ngược lại, người Âu Tây nói về Coffea Arabica, cây cà phê Arabica khá là đa dạng về giống, hương vị và chất lượng.

Ở bài viết này, chúng tôi muốn chia sẻ với bạn thông tin về các loại cà phê phổ biến nhất trên thế giới và Việt Nam. Nếu bạn là người đam mê về cà phê, muốn mở quán, hoặc trở thành chuyên viên pha chế (barista), nội dung ở bài viết này hy vọng sẽ giúp bạn thành công.

Giống cà phê Arabica:

Khoảng 65% tổng sản lượng cà phê tiêu thụ trên thế giới là Arabica.   Theo đánh giá khoa học thì giống arabica có hai loại cây (cultivar) chính: Bourbon và Typica.

Hình trái Arabica chín ở Đà Lạt Việt Nam

Lịch sử viết lại là Arabica được tìm thấy ở vùng cao nguyên ở nước Ethiopia vào thế kỷ thứ 6.  Sau đó Arabica được mang đến nước lân cận là Yemen vào những năm 500- 1500.   Từ Yemen, arabica được mang đến những nước ở vùng nhiệt đới.

Loại cà phê Bourbon:

Do người Pháp mang từ Yemen đến Đảo Bourbon (nay là La Réunion) vào đầu những năm 1700.  Vì vậy, Bourbon có cái tên của hòn đảo xưa. Cây Bourbon bắt đầu rời đảo Bourbon từ giữa những năm 1800, khi các nhà truyền giáo mang cây này đến nhiều quốc gia ở châu Phi và châu Mỹ.

Cây cà phê Red Bourbon:

Được trồng nhiều ở những nước châu Mỹ Latinh như El Salvador, Guatemala, Honduras và Peru. El Salvador chủ yếu sản xuất cà phê Red Bourbon, Yellow và Orange. Điều quan trọng cho chất lượng cà phê là trồng trong bóng râm để cho trái cà phê cherry chín hoàn toàn.   Đặc trưng hương vị của Red Bourbon là ngọt, thể chất (body) tốt, êm miệng (smooth).  Cà phê Red Bourbon cũng được trồng ở Đà Lạt nhưng với số lượng nhỏ.

Cây cà phê Yellow Bourbon:

Xuất hiện đầu tiên vào năm 1930 tại một trang trại Red Bourbon gần thành phố Pederneiras (SP) của nước Brazil.  Yellow Bourbon được nhiều người tin rằng là kết quả của quá trình lai tạo tự nhiên giữa Red Bourbon và Yellow Botucatu.

Yellow Bourbon cần được trồng ở độ cao từ 1000m trên mặt nước biển trở lên thì sẽ cho ra hạt với chất lượng cao.  Hương vị đặc trưng của Yellow Bourbon là ngọt ngào, hương thơm nổi bật và vị axit citric rất rõ rệt.

Yellow Bourbon cũng được một vài hộ nông dân trồng ở Đà Lạt, nhưng về sản lượng thì không rõ lắm.

Yellow bourbon.  Hình từ Shutter Stock

Cây cà phê Orange Bourbon:

Có nguồn gốc từ Colombia vì thích nghi với thổ nhưỡng ở nước này.  Cà phê Organge Bourbon có chứa hàm lượng đường fructose nhiều vì vậy cho ra những ly cà phê ngon và ngọt.

Cây cà phê Catura:

Là một loại cây Arabica đột biến tự nhiên từ giống Bourbon. Cây cà phê Catura được khám phá ở Brazil năm 1937.  Catura cho ra sản lượng tốt có khả năng chống bệnh tốt hơn cây mẹ Bourbon.  Catura được trồng phổ biến ở Colombia, Costa Rica, Nicaragua và Brazil.  Hương vị đặc trưng của Catura là axit citric, thể chất vừa, nhưng không ngọt như cây mẹ Bourbon.

Cây cà phê Pacas:

Là một cây đột biến tự nhiên của cây mẹ Bourbon. Cây này được phát hiện ở El Salvador vào năm 1949.  Cây cà phê được lấy tên của một gia đình chủ nông trại phát hiện ra nó.  Cây cà phê Pacas cho năng xuất cao hơn cây Bourbon.  Về vị thì cà phê Pacas ít ngọt hơn là Bourbon.

Loại cà phê Typica:

Được trồng nhiều ở những nước vùng trung Mỹ, Jamaica và Indonesia. Cây cà phê typica cho sản lượng thấp hơn Bourbon từ 20 đến 30%.  Hương vị đặc trưng là malic axit giống như vị chua của trái táo, ngọt, và thể chất tốt.  Một số cây con của giống cà phê Typica là:

Cây cà phê Maragogype/Maragogipe (đọc là mara-go-híp-pê):

Là một cây cà phê đột biến tự nhiên từ giống cây cà phê Typica được phát hiện ở Brazil khoảng năm 1870. Điểm đặc biệt của Maragogype là cây cao to, lá to, và trái to nhưng lại cho sản lượng thấp vì thế không có nhiều nông dân thích trồng.

Cây cà phê Mokka hay gọi là Moka:

Là một cây đột biến tự nhiên từ Typica.  Cây Mokka được trồng phổ biến ở nước Brazil và tiểu bang Hawaii của Mỹ.   Đặc điểm cây này là thấp, trái rất nhỏ, và có sản lượng không cao.  Cà phê Mokka có ít hàm lượng caffeine hơn là những cây Arabica khác.  Thông tin về cây Mokka ở Việt Nam thì không nhiều.

 

Những cây đột biến từ Tyipca là Kent và Blue Mountain

Kent là cây lai giống tự nhiên được phát hiện ở Ấn Độ ở thập niên 1930’s.  Cà phê Blue Mountain là một cây từ Typica.  Cây được lấy tên từ vùng trồng nổi tiếng ở nước Jamaica có độ cao khoảng 2000m trên mặt nước biển.  Cà phê Blue Mountain có hương vị nhẹ và không có vị đắng.

Những cây lai giống giữa Tyipca và Bourbon

Cây cà phê Pacamara:

Là một sáng tạo của Viện Nghiên cứu Cà phê Salvador (ISIC) vào năm 1958.  Pacamarra kết quả của việc lai giống giữa Pacas và Maragogipe. Ý tưởng đằng sau việc tạo ra Pacamara hỗn hợp (hybrid) là để có được những gì tốt nhất của hai biến thể. Nó được đặt tên là PACAMARA liên quan đến bốn chữ cái đầu tiên của mỗi giống bố mẹ (Paca(s)+ mara(gogype)). Phải mất khoảng 30 năm nghiên cứu khoa học cẩn thận để tạo ra giống Pacamara. Nó được phát hành cho các nhà sản xuất cà phê vào cuối những năm 1980.

Pacamara thường có hương thơm phức tạp và mãnh liệt.  Có thể chất trung bình đến cao, độ chua thanh lịch với hương vị chuyển từ hương ngọt ngào của sô cô la và bơ sữa đến tông trái cây.  Vị chua có thể liên tưởng đến citric, quả mọng đỏ và quả hạch (như táo việt, xoài…).

Cây cà phê Pacamara có trồng ở Đà Lạt, nhưng sản lượng không nhiều và phổ biến trên thị trường.

Cây cà phê Mundo Novo:

Là kết quả của sự lai tạo tự nhiên giữa các giống Bourbon và Typica được tìm thấy ở Mineiros do Tiete, Sao Paulo, Brazil. Hạt giống của những cây cà phê ban đầu được trồng ở thành phố Novo Mundo.  Ngày nay được gọi là Urupê, nơi chọn lọc đã tạo ra giống Mundo Novo. Giống được phát hiện vào năm 1943.

Các cuộc tuyển chọn đầu tiên của Mundo Novo ở Brazil được hoàn thành từ năm 1943 đến năm 1952.  Các cuộc tuyển chọn mới được phát hành ở Brazil bắt đầu từ năm 1977. Giống này có tầm quan trọng thương mại ở Brazil. Ở các nước miền Nam khác ở châu Mỹ bao gồm cả Peru.  Nhưng ít được trồng ở Trung Mỹ.

Mundo Novo đến Costa Rica lần đầu tiên vào năm 1952. Tuy nhiên giống này không được chấp nhận rộng rãi vì nông dân không thích do cây cà phê quá cao.  Cây cà phê Mundo Novo có sức sống và năng suất cao so với một số loại giống truyền thống của châu Mỹ, nhưng chín muộn.  Đầu lá của nó có thể có màu xanh lục hoặc màu đồng.

Heirloom

Nhiều cây cà phê Arabica không có liên hệ trực tiếp đến giống cà phê Bourbon và cà phê Typica. Những cây cà phê này gọi là cây heirloom (tiếng Việt tạm dịch là gia truyền).

Một trong những cây cà phê nổi tiếng thế giới hiện nay là cà phê Gesha/Geisha xuất xứ từ một thành phố nhỏ tên Gesha ở nước Ethiopia.   Cây cà phê Gesha được mang trồng ở vùng Boquete nước Panama.  Gesha là một trong những cây cà phê nổi tiếng với giá cao.  Boquete có độ cao thấp nhất là 1000m và cao nhất là 2800m trên mặt nước biển.   Khí hậu vùng Bouqte rất lý tưởng cho cây cà phê.

Cây cà phê Gesha:

Cà phê Gesha trồng ở vùng Bouquet, Panama có hương cam quýt, mật ong và hương thơm như hoa nhài.

Giống Caffea Canephora

Cây cà phê robusta:

Được tìm thấy ở nước Congo năm 1898.  Robusta chiếm khoảng 35% tổng sản lượng cà phê tiêu thụ ở thế giới.  Cây Robusta rời lục địa châu Phi vào thế kỷ 19, gần 300 năm sau khi cây Arabica rời lục địa.  Do đó rất ít thông tin về lịch sử giống cây trồng của nó so với Arabica.

Hiện tại Việt Nam là quốc gia sản xuất Robusta nhiều nhất trên thế giới.  Kế đến là Brazil và Mexico là hai quốc gia trồng cà phê nổi tiếng ở Nam Mỹ.  Những quốc gia khác như Ivory Coast, India, Indonesia cũng trồng đáng kể cây cà phê Robusta.

Quan điểm chung của người uống cà phê trên thế giới là Robusta tạo ra một tách cà phê kém hơn về hương và không hấp dẫn so với Arabica.  Cây cà phê robusta trồng tương đối dễ và rẻ so với Arabica. Tuy nhiên, cây Robusta cho năng suất cao hơn.

Cà phê Robusta có hàm lượng caffeine (khoảng 2,7% so với 1,5% của Arabica) cao và có khả năng chống lại hạn hán và bệnh tật. Vì thế, Robusta được xem như một loại cà phê “phụ”.  Phần lớn Robusta được sử dụng trong các loại cà phê hòa tan.

Tuy nhiên một số nhà sản xuất nhận thấy rằng khi Robusta được trồng và chế biến với sự chăm sóc tương tự như Arabica.  Robusta cũng có thể tạo ra một ly cà phê mạnh và thơm ngon. Những loại cà phê Robusta này có thể có độ chua cao, ngọt vừa và ít đắng.

Khi cà phê Robusta được sản xuất và rang tốt thì sẽ cho ra một ly cà phê ngon.  Một ly cà phê có hương vị kéo dài, độ chua trung bình thấp và vị đắng ít. Một số người thậm chí còn mô tả cà phê có hương của các loại gia vị, hoa và trái cây.  Hương vị trái như dưa, óc chó, nhục đậu khấu và ca cao.

Ở Việt Nam, từ năm 2006 đến năm 2016, Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên đã giới thiệu đến người nông dân 10 giống Robusta.   Những giống này là TR4,5,6,7,8,9, 11, 12,13 và TRS1.  Riêng cây cà phê Robusta TR4 được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận là cây cà phê chính của Việt Nam từ năm 2006.

Cây cà phê hỗn hợp (hybrid) giữa Arabica và Robusta:

Cây cà phê Arabica rất dễ bị bệnh rỉ sắt lá, cho năng suất thấp.  Nhưng bù lại thì hương vị thơm và phong phú.  Còn giống cà phê Robusta thì cho nhiều trái, trồng được ở độ cao dưới 1000m so với mặt nước biển. Robusta có khả năng chống lại nhiều loại sâu bệnh.  Ngược lại, Robusta không cho ra chất lượng cao về hương vị.

Cây cà phê Catimor

Được ra đời ở Bồ Đào Nha vào năm 1959 bởi các nhà khoa học.  Những người này muốn tìm kiếm một giống cây cà phê kỳ diệu về năng suất cao. Một cây có khả năng kháng bệnh với kích thước cây nhỏ (cho ra mật độ cây trồng cao). Catimor là giống lai giữa Timor Hybrid và Catura.  Timor Hybrid là loại cây có khả năng đề kháng bệnh rỉ sắt lá vì có nguồn gốc di truyền Robusta.

Cây cà phê Castillo:

Được ghép giống ở Columbia và cà phê Ruitu 11 của nước Kenya là hai cây hybrid giữa Arabica và Robusta.

Hiện tại Việt Nam và Indonesia là hai quốc gia trồng nhiều cà phê Arabica Catimor nhất trên thế giới.  Theo thông tin của Hiệp Hội Cà Phê và ca cao (Vincofa) thì 99% những cây Arabica trồng ở Việt Nam là cây Catimor.

Giống cà phê Liberica (cà phê mít)

Liberica có nguồn gốc ở Liberia, Tây Phi. Tuy nhiên ngày nay cà phê mít chủ yếu được trồng và tiêu thụ ở Đông Nam Á – cụ thể là Philippines, Indonesia và Malaysia. Chỉ riêng ở Philippines, Liberica chiếm hơn 70% tổng số cà phê được trồng.  Nhưng chỉ có 0,1% cà phê Liberica được tiêu thụ trên thế giới.

Nghiên cứu chỉ ra rằng Liberica đã trải qua một sự gia tăng lớn về mức độ phổ biến vào cuối thế kỷ 19.  Vào khoảng năm 1890, một trận dịch rỉ lá cà phê đã tàn phá hơn 90% tổng số cây trồng Arabica trên toàn thế giới.  Do đó, loại cây cà phê Liberica được khám phá vì nó có khả năng chống chịu bệnh tật và sâu bệnh.

Cây Liberica bắt đầu cho quả sau 5 năm kể từ khi được trồng. Chúng phát triển cao.  Một số cây cao tới 17 mét – điều này có thể khiến việc hái trái cà phê trở nên khó khăn.

Liberica được chế biến phơi khô (natural process) có xu hướng tạo ra hương vị mít.  Khi cà phê Liberica chế biến ướt thì sẽ cho ra nhiều hương vị như cam quýt và hoa hơn.  Thậm chí có hương vị “truyền thống”, như sô cô la.

Cây cà phê Excelsa:

Là một loại cây xuất phát từ cây Liberica. Excelsa được trồng ở quốc gia vùng Đông Nam Á.  Theo thống kê thì Excelsa chiếm khoảng 7% tổng sản lượng trên thế giới.  Cà phê Excelsa có vị chua đặc biệt, vị trái cây, vị đậm, huyền bí.

Ở Việt Nam, cây cà phê mít cũng được trồng, nhưng không phổ biến lắm.

 

Bài viết được thực hiện bởi Bui Coffee Roasters, vui lòng ghi rõ nguồn nếu bạn muốn chia sẻ lại những thông tin trên.

 

Chia sẻ